Thứ Hai, 17 tháng 1, 2011

Thông Báo V/v Tham Gia Chương Trình Ánh Sáng Phật Pháp



Kính thưa quý Phật tử !
Từ khi Chương trình Ánh Sáng Phật Pháp ra đời đã được Phật tử gần xa đón nhận một cách nồng nhiệt. Bởi lẽ đây là chương trình Phật Pháp mang tính thực tiễn xoay quanh việc giải đáp các thắc mắc trong lĩnh vực học tập và ứng dụng lời Phật trong đời sống hằng ngày.
Xin thay mặt ban tổ chức tri ân đến chư thiện hữu tri thức, cùng quý Phật tử gần xa đã hưởng ứng và tham gia chương trình Ánh Sáng Phật Pháp trong suốt những năm qua.
Kính thưa quý vị,
Nhằm tạo cho chương trình ngày một thêm sinh động, mang tính thực tiễn cao trong lĩnh vực đưa ánh sáng Phật Pháp đi vào cuộc đời. Kể từ Chương Trình Ánh Sáng Phật Pháp kỳ 18 này về sau, ban tổ chức sẽ cho đăng các câu hỏi của chương trình trước một tháng, để tạo điều kiện cho Phật tử gần xa có thể đóng góp ý kiến, quan điểm của mình về các câu hỏi. Sau đó, ban tổ chức sẽ tổng hợp, biên tập lại các ý kiến sâu sắc của quý vị, nhằm bổ sung cho câu trả lời của chương trình được thêm phần phong phú hơn. Rất mong quý Phật tử hưởng ứng tinh thần hoằng pháp lợi sinh này.
Mọi ý kiến đóng góp xin quý vị gửi về chùa thông qua địa chỉ email:  chuongtrinhanhsangphatphap@gmail.com. hoặc chuahoangphap@gmail.com  Nếu gửi bằng bưu điện xin đề ngoài phong bì kính gửi chương trình Ánh Sáng Phật Pháp, chùa Hoằng Pháp xã Tân Hiệp, Hóc Môn, TP.HCM.
Cuối lời, thay mặt những người thực hiện chương trình cầu nguyện hồng ân Tam Bảo gia hộ cho quý Phật tử và gia quyến luôn an vui hạnh phúc.
Nam mô hoan hỷ tạng Bồ-tát Ma ha tát.
                                                                                       Chủ nhiệm chương trình

                                                                                                    Thích Chân Tính

Tiểu sử Sư Tổ


        
        TIỂU SỬ HÒA THƯỢNG NGỘ CHÂN TỬ (1901-1988)
        ( HÒA THƯỢNG KHAI SƠN CHÙA HOẰNG PHÁP )
 
Hòa thượng Ngộ Chân Tử thế danh là Trần Rinh, sinh ngày mùng 3 tháng 3 năm Tân Sửu (1901), tại tỉnh Thái Bình trong một gia đình Nho học. Thân phụ là cụ Trần Quán, thân mẫu là cụ Trần Thị Phược. Ngài là anh cả trong số năm anh em (3 trai, 2 gái).
Sớm hấp thụ và thâm hiểu Nho học từ thời niên thiếu, khi trưởng thành ngài chuyển sang nghiên cứu Phật học theo sự hướng dẫn của Sư Tổ Quang Huy. Nhờ túc căn sẵn có, lại thêm siêng năng nghiên cứu; nên không bao lâu ngài đã thâm nhập Phật pháp, nhận thấy nhân sinh đa hoạn, thế sự vô thường, bả lợi danh như trò ảo hóa, mạng sống thật mong manh ngắn ngủi. Như lời Tổ Quy Sơn đã dạy :
Sáng còn đó đến giờ chiều mất,
Sát na qua một giấc đời sau.
Ví như sương mốc sáng nào,
Ánh dương xuất hiện biến vào hư không.
Cây bên bờ dây trong thành giếng,
Không bao giờ miên viễn dài lâu.
Niệm niệm mau chóng nhiệm mầu,
Chỉ trong hơi chuyển bắt đầu lai sinh.
Do vậy ngài nghĩ mình phải sống như thế nào cho xứng đáng không uổng một kiếp người. Vì “làm người chỉ xứng với danh nghĩa con người chừng nào người ta đấu tranh để thắng thiên nhiên, cả nội giới lẫn ngoại giới. Chinh phục ngoại giới là một công trình vĩ đại, nhưng chinh phục được nội giới lại còn vĩ đại hơn ! Hiểu được những định luật chi phối các vì sao và các hành tinh khác là một điều hay, nhưng hiểu được những định luật chi phối những tham vọng, tình cảm và ý chí của con người còn hay và khó gấp bội phần”. Do đó ngài quyết tâm hướng tâm về đạo giải thoát của Đức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni, để tìm cầu chân lý. Sau một thời gian tầm sư học đạo ngài đã gặp được Tôn Sư Hư Không Tử thường du hóa tha phương, hành đạo theo hạnh Độc giác và chuyên giảng kinh hóa độ quần mê. Với lời giảng thanh thoát và dung mạo uy nghiêm, biểu thị một bậc chân tu thoát tục, Tôn Sư đã mau chóng cảm hóa ngài. Vào ngày mùng 8 tháng 2 năm Kỷ Mùi, ngài được Tôn Sư trao truyền quy giới với pháp danh Ngộ Chân Tử. Sau đó ngài đã đắc pháp với cụ Tổ chùa Bà Đá – Hà Nội.

Năm Kỷ Mùi (1919), trên bước đường vân trình theo thầy học đạo, ngài đã được nhân duyên chiêm bái nhiều nơi cổ tích danh lam. Khi qua Yên Tử, lúc đến Côn Sơn, rồi Non Nước, Tam Đảo, Tản Viên, Hương Tích, chùa Thầy, đều là những thắng địa cho việc tọa thiền tu tập.

Năm 1927, ngài xin phép thầy trở về trùng tu chùa làng tại Cao Mại, Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và thỉnh Tôn Sư đến giảng kinh. Cao đức của Tôn Sư và nhiệt tâm của ngài đã chuyển hóa gia đình quy hướng Phật đạo, đồng tâm xả tục, phát nguyện trai giới tu hành, đem hết tài sản ruộng vườn hiến cúng Tam Bảo để mở mang Phật sự.

Từ năm 1929 đến năm 1932, ngài đến trùng tu các chùa Quan Âm tỉnh Kiến An; chùa làng Úc Gián huyện Kiến Thụy; chùa Văn Đẩu huyện An Lão; chùa Kiền Bái, chùa Côn Sơn, chùa Đỗ Xá huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương; chùa Phù Cốc, chùa Khánh Vân phủ Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.

Năm 1935, ngài mua đất tại Kiến An và sáng lập chùa Hoằng Pháp độ chúng tu hành, hoằng truyền giáo pháp.Trải qua một thời gian dài tu hành, ngài nhận thấy con đường đến Phật quả phải thực hành Bồ tát hạnh và lấy lục độ Ba la mật làm pháp tu căn bản. Do vậy, năm 1938, để thực hiện tinh thần bố thí Ba la mật, ngài đã thành lập Viện Dục Anh tại tỉnh Kiến An, thu nhận các trẻ em nghèo khổ, mất cha hoặc mất mẹ, thiếu tình thương về nuôi dạy cho ăn học thành tài. Ngoài việc nuôi dạy cô nhi ra ngài còn mở thêm tiểu thủ công nghiệp, để giúp đỡ những người nghèo khó có phương tiện sinh sống. Việc làm này được chính quyền đương thời và chư tôn thiền đức hết sức tán thán và ủng hộ, vì nó đã thể hiện được tinh thần từ bi cứu khổ của đạo Phật. Như lời một vị Sa môn đã ca ngợi :
Đến thăm Hoằng Pháp Dục Anh đường
Cảnh đẹp nhờ tay khéo chủ trương
Lũ trẻ theo duyên bao kiếp lại
Một thầy đủ phúc mấy lần đương
Quý thay ngọc ẩn sau mình vải
Vui thực vàng phô trước mắt thường
Chúc nguyện chùa này ngày thịnh vượng
Đàn em tắm mát nước cành dương.
Năm 1945 (Ất Dậu), chiến tranh Pháp – Nhật xảy ra trên quê hương, nạn đói tràn lan miền Bắc, thây chết đầy đường, tiếng khóc than như xé ruột. Đứng trước thảm cảnh tang thương của đồng bào, ngài đã vận động các cơ quan từ thiện và những nhà hảo tâm tiếp sức với chùa, tổ chức cứu tế xã hội giúp đỡ cơm áo thuốc men cho những người đói, bệnh. Hằng ngày, ngài cùng với bổn đạo kéo xe đi nhặt các tử thi xấu số không người thừa nhận về mai táng.

Năm 1953, ngài mua hai mẫu đất tại tỉnh Hải Phòng, mở tùng lâm tu viện nay là chùa Phổ Chiếu, và lập thêm Viện Dưỡng Lão giúp đỡ người già yếu có nơi an dưỡng, tu niệm.

Năm 1955, với mục đích hoằng dương Phật Pháp đến khắp mọi miền, Hòa thượng đã hành đạo đến miền Nam qua các nơi như Gò Công, Cai Lậy, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ, Châu Đốc.

Năm 1957, nhận thấy Gia Định là nơi thuận duyên trong việc hành đạo, ngài liền mua sáu mẫu đất tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, sáng lập chùa Hoằng Pháp, làm nơi tu hành và hoằng dương Phật Pháp, tiếp độ Tăng chúng, hướng dẫn Phật tử tu học.

Năm 1965, trước cảnh màn trời chiếu đất, nhà tan cửa nát của đồng bào bị chiến tranh tàn phá tại Đồng Xoài, Thuận Lợi, Hòa thượng đã đón nhận 60 gia đình gồm 361 nhân khẩu về chùa nuôi ăn trong 8 tháng. Sau đó, xây cất khu định cư gồm 55 căn nhà vách tường mái tôn cấp cho đồng bào với đầy đủ các đồ dùng cần thiết trong gia đình.Năm 1968, ngài thành lập Giáo Hội Đạo Tràng Thiền Học, nhằm mục đích mở rộng việc truyền bá giáo lý đạo Phật đến khắp mọi miền đất nước. Ngài cũng đã tiếp nhận và trùng tu ngôi chùa Thiện Phước tọa lạc tại số 192/11 đường Nguyễn Trãi, quận 5, Sài Gòn làm nơi giảng kinh thuyết pháp, phổ biến kinh sách.

Cũng năm 1968, chiến tranh vẫn tiếp diễn tàn khốc trên quê hương đất nước, những trẻ thơ mất cha lạc mẹ bơ vơ không nơi nương tựa hoặc nghèo đói thất học ngày càng nhiều. Một lần nữa, ngài lại thành lập Viện Dục Anh tại xã Tân Hiệp, huyện Hóc Môn, tiếp nhận cô nhi và bần nhi từ 6 đến 8 tuổi, khoảng 355 em, nuôi dạy miễn phí, rèn luyện đức trí, thể dục để trở thành người hữu dụng cho đất nước trong tương lai.

Năm 1974, mặc dù tuổi đã cao, nhưng với hạnh nguyện từ bi vô lượng, ngài đã mua 45 mẫu đất tại ấp Phú Đức, xã Tân Tạo, huyện Bình Chánh, dự định thực hiện một chương trình xây dựng làng cô nhi Việt Nam với đầy đủ phương tiện cho các em sinh hoạt và một đền thờ quốc tổ Hùng Vương để nhắc con cháu nhớ đến công cuộc mở nước và dựng nước của các vua Hùng oanh liệt thuở trước. Công việc đang được tiến hành xây dựng thì đến tháng 4 – 1975 đất nước được thống nhất, ngài đã hiến số đất đó cho Ban Quản trị khu kinh tế mới sử dụng, hiện nay là nông trường Lê Minh Xuân.

Từ sau 1975, Hòa thượng vẫn tiếp tục những công tác từ thiện xã hội cho đất nước. Mặc dù tuổi cao sức yếu và kinh tế eo hẹp, Hòa thượng vẫn đóng góp hàng tháng vào trường Cao cấp Phật học và trong cuộc hỏa hoạn ở chợ nhỏ phường 24 quận 1 đường Nguyễn Cảnh Chân, TP. Hồ Chí Minh, ngài đã cứu trợ 3 đợt cho 31 hộ tại đó.

Với tâm nguyện hoằng pháp để giác ngộ nhân sinh, mặc dù bận rộn rất nhiều công tác Phật sự và từ thiện xã hội, Hòa thượng cũng vẫn không quên việc truyền bá chánh pháp, ngài đã biên soạn một số kinh sách ấn tống như :
1) Kinh Nhật tụng (soạn riêng cho chùa tụng đọc)
2) Nghi luật tu trì thiết yếu
3) Quy giới hành trì
4) Sự tích nhân quả báo ứng
5) Tuyên dương diệu pháp
6) Đạo giải thoát
7) Tuyên dương chánh pháp
8) Trên đường hành đạo
9) Khóa niệm tùy thân
10) Lược sử Phật Tổ 
 
Suốt cuộc đời hành đạo từ Bắc chí Nam, Hòa thượng đã cống hiến trọn đời mình cho đạo pháp và dân tộc. Thật đúng với câu “xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo” vì Hòa thượng ăn thì cơm hẩm, mặc thì áo bô, có những lúc thấy dân tình đói khổ, Hòa thượng đã nhịn bớt phần mình, chỉ dùng rau luộc muối mè và bảo đồ chúng phải thật tiết kiệm, để giúp đỡ cho những người nghèo khổ.

Quanh năm suốt đời ở túp lều tranh, vách đất, nhưng mang trong lòng một hoài bão hoằng pháp lợi sinh. Dầu đến lúc gần lìa cõi tạm, vẫn còn chưa thỏa nguyện bình sinh. Mỗi khi các đệ tử xa gần về thăm là ngài cứ nhắc nhở : “Hãy tinh tấn tu hành, chuyên cần niệm Phật đừng để vọng niệm theo trần cảnh. Vẫn biết nhị đế phải dung thông, nhưng trong cái tùy duyên với muôn nghìn phương tiện thiện xảo ấy, các con đừng để bị nhận chìm trong tục đế mà phải như đóa sen thanh khiết nơi vùng bùn lầy nước đục. Tuy bất cứ hoàn cảnh hay trạng huống nào vẫn xứng đáng với con giòng họ Thích, đừng phản bội lại lý tưởng của chính mình”.

Năm 1986, tuổi đã quá cao, sức người có hạn, đã mang nhục thân nên có cái hoạn của nhục thân. Hòa thượng lâm bệnh và mặc dù đã chạy chữa nhiều phương, nhưng bệnh tình vẫn bất tăng bất giảm. Biết mình sắp rời xa Đạo Tràng, môn chúng, Hòa thượng đã nhắn nhủ đủ điều, bảo ban căn kẽ. Trước đó một tuần, Hòa thượng không chịu tiếp thuốc men và bảo : “Hãy để tôi về, đừng nuối tiếc gì nữa”. Ngài đã an nhiên thị tịch lúc 13 giờ 30 phút ngày 16 tháng 10 năm Mậu Thìn tức ngày 26-11-1988 tại chùa Hoằng Pháp, trụ thế 88 năm và được 65 tuổi đạo.
Đất thảm trời sầu Hòa thượng quy
Đau lòng Phật tử với Tăng Ni
Nhớ thương Đại lão tâm Bồ tát
Kính mến cao Tăng hạnh đại bi
Giáo lý in kinh rèn đệ tử
Đạo vàng lập trại cứu cô nhi
Đại hiền rũ thoát nơi trần tục
Nghĩa nặng ơn sâu đức độ trì

Lễ tổng kết khóa tu niệm Phật cuối năm tại chùa Phước Tường - Trà Vinh



Nhận lời mời của Thượng tọa Thích Trí Minh, trụ trì chùa Phước Tường, xã Phong Phú, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Sáng ngày 16/01/2011 (nhằm ngày 13.12. Canh Dần) Thượng tọa Thích Chân Tính đã đến thăm và tham dự buổi lễ tổng kết khóa tu niệm Phật cuối năm tại quý tự.
 
Trong không khí trang nghiêm đầm ấm, giữa tiết trời se lạnh của những ngày cuối đông, khoảng hơn 400 Phật tử tỉnh Trà Vinh cùng các tỉnh lân cận đã hoan hỷ về tham dự.
 
Trước khi diễn ra buổi lễ tổng kết, Thượng tọa Thích Chân Tính đã có thời pháp khoảng một giờ đồng hồ với quý Phật tử. Nội dung tán thán tinh thần tu học một năm qua của đạo tràng, mong rằng đại chúng sẽ tinh tấn hơn trong năm tới, nhất là đạo tràng ngày càng có nhiều Phật tử đến tu tập. Thượng tọa cũng nhắn nhủ thêm, dù tu theo pháp môn nào, điều căn bản của người Phật tử nên thực hành bài kệ căn bản trong kinh Pháp Cú:

Chớ làm các điều ác
Siêng làm các việc lành
Giữ tâm ý trong sạch
Đó là lời Phật dạy.

Bài kệ tuy đơn giản ngắn gọn, nhưng chúng ta không nên xem thường. Nếu thưc hiện cho đúng có khi cả đời cũng chưa xong. Chớ làm các việc ác, cụ thể là không phạm năm giới cấm. Siêng làm các việc lành, cụ thể là hạnh bố thí gồm tài thí, pháp thí và vô úy thí. Giữ tâm ý trong sạch, cụ thể là không bị tham, sân, si chi phối. Hoặc tâm luôn luôn niệm Phật, nhớ Phật thì chắc chắn tâm của chúng ta sẽ thanh tịnh.
 
Không những một năm chúng ta mới quán xét lại mình, mà mỗi giây mỗi phút đều phải chánh niệm, tỉnh giác xem xét ba nghiệp thân, khẩu, ý sao cho mỗi ngày một thanh tịnh. Được như vậy, thì việc tu hành của chúng ta mới có lợi ích, an lạc hiện tại và mai sau.
 
Kết thúc buổi nói chuyện Thầy đã gửi tặng đến quý Phật tử 1300 đĩa VCD bao gồm Cảm Ơn Vô Thường và Phật Pháp Nhiệm Mầu Kỳ 27. Các Phật tử ra về với nụ cười hoan hỷ, lạc an…

Sau đây là một số hình ảnh ghi nhận:
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Chủ Nhật, 16 tháng 1, 2011

Chùa Thiên Mụ

Tên của ngôi chùa bắt nguồn từ một huyền thoại. Chuyện kể rằng từ xa xưa, dân địa phương đêm đêm thường thấy một bà già mặc áo đỏ, quần lục xuất hiện trên ngọn đồi nơi chùa toạ lạc ngày nay, và nói: rồi sẽ có chân chúa đến lập chùa ở đây để tụ khí cho bền long mạch. Hễ nói xong là bà biến mất. Sau khi vào trấn Thuận Hoá, chúa Nguyễn Hoàng một lần đi qua, nghe kể chuyện đã cho xây chùa và đặt tên là Thiên Mụ Tự. Chùa nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 5 km, trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương, xã Hương Long.
hue_thienmu1.gif (19673 bytes)
Năm 1601 chùa được xây dựng. Năm 1665 chúa Nguyễn Phúc Tần cho trùng tu. Năm 1710, chúa Nguyễn Phúc Chu cho đúc quả đại hồng chung cao 2,5m nặng 3285 kg, và năm 1715, chúa lại cho xây dựng tấm bia cao 2,58m đặt trên lưng con rùa bằng cẩm thạch. Vào thời Nguyễn, các vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Thành Thái đều cho trùng tu chùa. Tháp Phước Duyên (ban đầu được đặt tên là tháp Từ Nhân) được vua Thiệu Trị cho xây vào năm 1844. Tháp hình bát giác cao 7 tầng (21 m). Ðiện Ðại Hùng là ngôi chính điện trong chùa, một công trình kiến trúc đồ sộ nguy nga. Trong điện, ngoài những tượng phật bằng đồng sáng chói còn treo một khánh đồng được đúc năm 1677 và một bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng do tự tay chúa Nguyễn Phúc Chu đề tặng năm 1714. Hai bên chùa có nhà trai, nơi các sư tĩnh dưỡng và nhà khách để đón khách đến vãn cảnh chùa.

hue_thienmu2.gif (18848 bytes)

hue_thienmu.gif (15660 bytes)
Trước các điện, quanh chùa là các vườn hoa cây cảnh xanh tươi, rực rỡ. Phía sau cùng là vườn thông tĩnh mịch, phong cảnh nên thơ. Chùa bị hư hỏng nặng năm 1943. Từ năm 1945, Hoà thượng Thích Ðôn Hậu đã tổ chức công cuộc đại trùng tu kéo dài hơn 30 năm.
Ngày nay chùa vẫn được tiếp tục chỉnh trang ngày càng huy hoàng, tráng lệ, luôn hấp dẫn và thu hút đông đảo du khách gần xa.